Công nghiệp dệt nhuộm là một trong những ngành phát triển mạnh do cơ chế thị trường mở cửa, nhu cầu may mặc trong nước và xuất khẩu ngày một phát triển không ngừng. Trong quá trình sản xuất các sản phẩm dệt nhuộm, ngoài các nguyên liệu chính thì không thể thiếu loại nguyên liệu quan trọng đó là hóa chất.
Hóa chất dùng trong công nghiệp dệt nhuộm là gì?
Hóa chất dùng trong công nghiệp dệt nhuộm là một nhóm các loại hóa chất vô cơ được sử dụng để nhuộm và hoàn tất hàng dệt may mặc. Những loại hóa chất được sử dụng trong công nghiệp ngành dệt may có thể kể đến như:
– Natri clorua, natri hydro sulfat, natri sunfat: Sử dụng trong công đoạn nhuộm.
– Magnesium sulfate: Dùng khi hoàn tất.
– Natri sunfit và natri đithionit: Là một chất khử trong thuốc nhuộm vải và thuốc nhuộm lưu huỳnh.
– Muối nhôm: Sử dụng trong công đoạn chống thấm vải.
– Natri clorit, sodium hypochlorite, hydrogen peroxide: Sử dụng để tẩy trắng.
– Amoniac, xút, axit sulfuric, axit fomic, axit axetic: Sử dụng trong quy trình nhuộm và hoàn tất.
6 loại hóa chất tiêu biểu nhất trong công nghiệp dệt nhuộm
6 hóa chất tiêu biểu trong ngành dệt nhuộm
1. Oxy già H2O2
Oxy già H2O2 có tên khoa học là Hydrogen peroxide (hiđrô perôxít), công thức hóa học là H2O2, thường có nồng độ đậm đặc từ 50% trở lên. Đặc điểm nhận biết: Hóa chất dạng lỏng trong suốt, nhìn giống nước nhưng nhờn hơn nước.
Hóa chất dệt nhuộm – Oxy già H2O2
Mang tính chất của một chất Oxy hóa mạnh nên Oxy già H2O2 được xem như một chất tẩy trắng hiệu quả và mạnh mẽ. Với ưu điểm thân thiện với môi trường nên oxy già H2O2 được ưu tiên lựa chọn trong ngành công nghiệp dệt nhuộm với vai trò như một chất tẩy trắng sợi, giấy; khử trùng, khử mùi; làm chất oxy hóa trong công đoạn nhuộm vô cùng hiệu quả.
=> Lưu ý khi bảo quản oxy già H2O2: Oxy già H2O2 rất dễ cháy, nguy cơ kích nổ cao nên cần được bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát. Dưới ánh sáng trực tiếp oxy già H2O2 dễ bị phân hủy nên cần lưu trữ trong thùng phuy kín, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng.
2. Javen NaClo – Natri hypochlorit
Dấu hiệu nhận biết Javen: là một dung dịch có màu vàng chanh, được coi là chất oxy hóa mạnh, trong môi trường ánh sáng và nhiệt độ, Javen dễ bị phân hủy và giải phóng khí clo.
Trong công nghiệp dệt nhuộm, Javen NaClo là hóa chất được sử dụng làm chất tẩy màu, vết mốc, nhựa, cây. Nước Javen rất nguy hiểm, cần tránh tiếp xúc với mắt.
3. Axit Axetic CH3COOH
Axit Axetic – hóa chất trong ngành công nghiệp dệt nhuộm
Axit Axetic là chất lỏng không màu. Tại nhiệt độ 16 độ C, 99,5% axit axetic sẽ đóng băng và 16,635 độ C thì nóng chảy. Axit Axetic là axit yếu có thể tan trong nước, rượu và ete.
Trong công nghiệp dệt nhuộm:
Axit Axetic sẽ làm chậm quá trình nhuộm, giúp tăng cường độ đều màu của sản phẩm.
Là hóa chất dùng để pha chế dung dịch hiện màu. Thuốc nhuộm naphtol nếu dùng Axit Axetic sẽ có màu sắc tươi, rõ nét hơn.
Làm chất trung hòa dung dịch kiềm
Giúp ăn màu cho thuốc nhuộm axit
Làm chất hiện màu cho thuốc nhuộm azo không hòa tan
4. Axit Oxalic (COOH2)
Axit Oxalic trong công nghiệp dệt nhuộm
Axit Oxalic được xếp vào danh sách những hóa chất có tính axit mạnh. Theo nghiên cứu, axit oxalic có tính axit mạnh gấp 10.000 lần Axit Acetic.
Ứng dụng trong công nghiệp dệt nhuộm: 25% axit oxalic được sản xuất để làm chất gắn màu hoặc tẩy trắng trong quá trình nhuộm. Do khả năng làm mất màu thuốc tím nên Axit Oxalic được xem như một chất khử Oxy trong phản ứng oxy hóa khử, dùng để tẩy sét dính trên vải.
Lưu ý: Axit Oxalic dễ làm hư, xơ sợi vải nên sau khi sử dụng cần phải xả thật sạch.
5. Soda sodium cacbonat
Soda Sodium cacbonat là chất bột trắng, dễ tan trong nước. Công dụng của Soda Sodium cacbonat trong ngành dệt nhuộm:
Làm mềm nước
Dùng làm chất trợ nhuộm
Tăng tính hòa tan cho phẩm nhuộm trực tiếp
Tạo môi trường kiềm
Dùng làm chất gắn màu cho phẩm nhuộm hoạt tính, tẩy các vết dơ, ố, dầu.
Phối hợp với xà phòng làm chất nhũ hóa nấu len, tơ tằm…
6. Xút vẩy
Xút là loại hóa chất được sử dụng nhiều trong công nghiệp dệt nhuộm, trong các công đoạn nấu tẩy, làm bóng, nhuộm, in hoa… có công dụng: rũ hồ, nấu luyện vải bông, khử tạp chất và xà phòng trên vải, tẩy giặt sau nhuộm, tạo dung dịch kiềm cao trong dung dịch tẩy màu.
Trên đây là một số hóa chất tiêu biểu trong ngành công nghiệp dệt nhuộm. Tùy vào mục địch sử dụng mà bạn có thể lựa chọn loại hóa chất cũng như liều lượng phù hợp sao cho đảm bảo tính an toàn và hiệu quả cao!
6 tháng đầu năm dệt may “thắng lớn” với đơn hàng dồi dào nhưng tình thế xấu đi nhanh chóng ở nửa cuối năm, đánh bay lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp.
“Một năm bất thường chưa từng có. 25 năm trong ngành, chưa bao giờ tôi thấy chỉ trong một tháng mọi tín hiệu thị trường ‘xoay chiều’, khác biệt đến thế”, Chủ tịch Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) Lê Tiến Trường nói, khi nhận xét về năm 2022.
Nửa đầu năm, đơn hàng của các doanh nghiệp dệt may dồi dào, giá tăng sau thời gian dài các thị trường xuất khẩu chủ lực bị ảnh hưởng bởi dịch.
Xuất khẩu dệt may đạt 22,3 tỷ USD, tăng gần 18% và xuất siêu gần 8,9 tỷ USD, tăng 32% so với cùng kỳ 2021. Mỹ, thị trường xuất khẩu lớn nhất của dệt may, tăng trưởng xuất khẩu tới 20% trong 9 tháng.
Sau gần 2 năm giãn cách xã hội, người tiêu dùng nhiều quốc gia xuất hiện tâm lý “quá mua”, tức mua nhiều hơn thông thường. Phía các nhà phân phối do lo sợ tình trạng giao hàng chậm vì tắc nghẽn chuỗi cung ứng khi thời điểm diễn ra dịch bệnh đã tăng đặt hàng, số lượng lớn để đáp ứng nhu cầu đang tăng rất cao của các nền kinh tế phục hồi sau đại dịch.
Nhưng tình trạng “quá mua” không kéo dài lâu sau những bất ổn địa chính trị, xung đột Nga – Ukraine khiến kinh tế thế giới nhanh chóng rơi vào lạm phát. Người dân các nước, nhất là tại các thị trường nhập khẩu chính như Mỹ, châu Âu… siết chặt hầu bao với các sản phẩm không thiết yếu như dệt may.
Cuối tháng 6, nhiều nhãn hiệu thời trang có lượng hàng tồn tăng tới 50%, thậm chí cao hơn thời điểm dịch bệnh diễn ra. Từ tháng 8, thị trường có dấu hiệu xấu và tháng 9 dệt may đổi chiều đi xuống. Những tháng đầu quý IV, thị trường sợi gần như không có thanh khoản, đơn hàng may giảm mạnh, thông tin báo lỗ từ các doanh nghiệp liên tục được công bố, đặc biệt là các đơn vị sợi.
Khó khăn bủa vây, nhiều ông lãnh đạo doanh nghiệp dệt may bất ngờ do thị trường lao dốc quá nhanh theo chiều thẳng đứng. “Sắc thái của ngành dệt may 6 tháng đầu năm và cuối năm hoàn toàn trái ngược”, ông Vương Đức Anh, Chánh văn phòng Vinatex nhận xét.
Quý IV thường là cao điểm sản xuất của các doanh nghiệp xuất khẩu như dệt may, nhưng năm nay thị trường lao dốc, đơn hàng giảm sâu, buộc các doanh nghiệp chấp nhận làm những mặt hàng trước nay chưa từng làm, nỗ lực tìm kiếm đơn hàng.
Giám đốc một doanh nghiệp may với 1.200 lao động tại huyện Bình Chánh, TP HCM chia sẻ, nửa đầu năm doanh nghiệp dồi dào đơn hàng, liên tục phải tăng ca để kịp giao hàng, tới cuối năm tình thế đột ngột thay đổi.
“Chúng tôi buộc phải giảm lao động thời vụ, công nhân nghỉ luân phiên và dừng một số dây chuyền vì không có đơn hàng”, ông bộc bạch.
Thị trường xoay chiều, ảm đạm, đơn hàng ít và giá hạ sâu tạo ra lượng hàng tồn kho lớn. Các nhà mua (buyer) thay vì đặt đơn hàng số lượng lớn hàng nghìn sản phẩm, họ chỉ đặt theo sức mua của người tiêu dùng, lượng hàng nhỏ, thời gian giao hàng nhanh để toàn chuỗi không bị tăng tồn kho.
Để có việc cho công nhân, tránh sa thải hàng loạt, các doanh nghiệp dệt may vì thế cũng phải thích ứng, nhận các đơn hàng nhỏ, giảm giá đơn hàng và cơ cấu lại sản xuất từ hàng dệt kim sang dệt thoi và đa dạng hoá thị trường xuất khẩu.
Sản xuất chững lại 3 tháng cuối năm nhưng nhờ mức tăng trưởng cao trong 3 quý trước đó, ngành dệt may vẫn cán đích xuất khẩu khoảng 44 tỷ USD, tăng 10% so với 2021. Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) nói đây là “nỗ lực tuyệt vời” trong bối cảnh thị trường đảo chiều. Mỹ vẫn là nước nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất, với hơn 18 tỷ USD. Kế đến là Hàn Quốc 4,2 tỷ USD, Nhật Bản và Trung Quốc gần 4 tỷ USD…
Tình thế thị trường thay đổi đột ngột nhưng vẫn có những doanh nghiệp ghi nhận mức lãi nghìn tỷ. Năm nay Vinatex cán đích với lợi nhuận hợp nhất 1.090 tỷ đồng. Nhờ kết quả kinh doanh tốt, tập đoàn này vẫn duy trì thưởng Tết 1,5-2 tháng, cá biệt có đơn vị làm ăn tốt thưởng 3 tháng lương Tết Nguyên đán 2023.
Dù vậy, vẫn còn những mối lo khi ngành dệt may chịu nhiều áp lực lớn. Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) cho biết, đơn hàng từ cuối năm nay tới quý I/2023 giảm 25-27% do sức mua của toàn cầu giảm. Doanh nghiệp làm hàng gia công chịu áp lực lớn hơn đơn vị làm FOB (tự chủ nguyên liệu) do không chủ động được thị trường, đầu vào nguyên nhiên liệu…
Nhiều doanh nghiệp hiện chỉ nhận được đơn hàng bằng 70-80% năng lực sản xuất. “Cầu về sản phẩm may mặc năm sau vẫn yếu, ít nhất quý đầu năm 2023 chưa khả quan”, ông Lê Tiến Trường nhận xét.
Ứng phó với tình huống khó khăn, theo ông, không có đơn thuốc chung với tất cả, mà phụ thuộc vào sự thích ứng linh hoạt, chủ động của từng doanh nghiệp.
Hiện, các nhà mua hàng không đặt đơn hàng dài hạn, hàng chục nghìn sản phẩm như trước, họ chỉ đặt các đơn hàng ngắn, vài trăm sản phẩm. Vì thế, ông Vũ Đức Giang cho rằng, các doanh nghiệp có thể chuyển hướng sản xuất sang những mặt hàng giá trị thấp hơn. Nhìn nhận bài học trong năm 2022, theo ông Giang, doanh nghiệp nào đa dạng hóa thị trường, mặt hàng… thì vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng.
Để có việc làm cho hơn 5.000 lao động, ông Nguyễn Hữu Tuấn, Giám đốc nhân sự Công ty Dệt may Thành Công cho biết, công ty chấp nhận những đơn hàng giá gia công thấp, thậm chí lỗ để duy trì khách hàng. Tuy vậy, doanh nghiệp dự báo kế hoạch quý I năm sau vẫn giảm 7%.
Hay với May 10, ông Thân Đức Việt, Tổng giám đốc May chia sẻ, để sẵn sàng cho giai đoạn phục hồi, doanh nghiệp này cũng triển khai nhiều giải pháp để giữ chân 12.000 lao động tại 18 nhà máy. “Doanh nghiệp ‘chuyển mình’ khi chấp nhận đơn hàng thời trang đòi hỏi chất lượng cao hơn, số lượng nhỏ lẻ hơn, thời gian giao hàng ngắn hơn…”, ông chia sẻ.
Với Vinatex, Chủ tịch Lê Tiến Trường cho hay, nhu cầu dệt may trên thế giới giảm nhưng mức độ không đều, khi có hiện tượng đơn vị đã thiếu thì thiếu kiệt quệ, đơn vị có đơn hàng thì vẫn kín cả năm.
“Nhu cầu có thể quay lại nhanh hoặc chậm, nhưng đã quay lại thì phải làm sao để mình có thể là người quay lại đầu tiên, để sóng phục hồi đến với mình trước tiên”, ông Trường nói.
Vì thế, tập đoàn này chọn chiến lược hy sinh lợi ích ngắn hạn để tạo ổn định cao hơn trong dài hạn; củng cố chuỗi cung ứng khép kín nội bộ từ sợi – dệt nhuộm- may mặc hoàn chỉnh và tìm cách giữ vị trí của mình trong chuỗi sản xuất bằng cách nhận làm cả một số đơn hàng thấp. Bởi, “nếu không nhận, các nhà mua hàng sẽ thuê đơn vị khác, và sau này muốn hợp tác lại cũng không dễ”.
“Xu thế hiện nay là khách hàng muốn tiếp xúc với những đối tác có thể làm từ đầu đến cuối, cắt đi khâu trung gian. Doanh nghiệp dệt may xây dựng được chuỗi cung ứng nội bộ khép kín, tham gia được chuỗi cung ứng toàn cầu thì mức độ bấp bênh, sụt giảm trước những biến động của thị trường sẽ thấp hơn”, ông Trường giải thích.
Năm 2023, ngành này đưa ra hai kịch bản tăng trưởng xuất khẩu, kịch bản tích cực có thể đạt kim ngạch 47-48 tỷ USD với kỳ vọng thị trường hồi phục vào nửa cuối năm sau. Kịch bản kém tích cực hơn, dự kiến tăng trưởng xuất khẩu dệt may khoảng 45-46 tỷ USD.
“Trong bối cảnh bất định và khó dự báo dài hạn, không ai dám nói năm tới sẽ thế nào. Việc xác định rõ những khó khăn trước mắt sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn, không còn hoang mang và sẵn sàng ứng phó với điều kiện kinh doanh không tích cực”, Chủ tịch Vinatex chốt lại.
Ngay sau khi báo chí phản ánh về hiện trạng ngành dệt may trong gặp nhiều khó khăn trong EVFTA, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành và địa phương phối hợp xử lý.
Thực tế, theo báo chí nêu, một số địa phương hiện đang dị ứng với các dự án dệt nhuộm để cung cấp nguyên phụ liệu cho ngành dệt may và xa hơn là phát triển công nghệ dệt, phụ trợ cho dệt may.
Thủ tướng yêu cầu xử lý thông tin địa phương từ chối dự án dệt nhuộm vì không xử lý được ô nhiễm
Nhiều doanh nghiệp dệt may cho biết các dự án dệt nhuộm bị các địa phương dị ứng, từ chối, trong đó có Vĩnh Phúc, Đà Nẵng thời gian vừa qua…
Theo một số hiệp hội, doanh nghiệp dệt may, nguyên nhân từ chối phần lớn là các địa phương không có các khu công nghiệp tập trung để xử lý các vấn đề về môi trường, nước thải của ngành dệt nhuộm.
Thực tế, các doanh nghiệp khâu dệt nhuộm có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nhất trong chuỗi sản xuất hàng dệt may. Tuy nhiên nếu được xử lý tập trung, có công nghệ xử lý nước thải tốt, đồng bộ, các nhà máy dệt nhuộm có thể phát triển tốt, bền vững…
Đồng thời, nếu phát triển được các khu công nghiệp dệt nhuộm sẽ là cơ sở tốt để góp phần tạo dựng giá trị gia tăng cho ngành dệt may Việt Nam, tăng tỷ lệ nội địa hóa, truy xuất nguồn gốc xuất xứ của hàng may mặc tại Việt Nam trong bối cảnh xuất khẩu hàng này của Việt Nam đến nhiều thị trường rộng lớn trong CPTPP, EVFTA.
Theo thông tin của báo Diễn đàn doanh nghiệp ngày 9/7: Nếu EVFTA là cao tốc nối với EU thì các địa phương của Việt Nam lại đang trở thành các trạm BOT cản trở doanh nghiệp dệt may chủ động nguyên liệu, tối đa lợi ích.
Tờ báo này nêu, dệt may phụ thuộc nguồn vải nhập khẩu nên khó nâng cao giá trị. Thời gian tới, ngành dệt may phải lấy trọng tâm là sản xuất vải. Để đáp ứng 45% lượng vải vào năm 2020 phải sản xuất thêm 1,7 tỷ mét và 65% vào năm 2020 phải sản xuất thêm 10 tỷ mét. Nhưng đầu tư sản xuất sợi, vải gặp khó khăn do nhiều địa phương từ chối vì lý do môi trường.
Với thông tin này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ Công Thương làm việc với các địa phương xử lý.
Hiện nay, Việt Nam phải nhập đến 80% vải cho may xuất khẩu, trong đó đa phần nhập từ Trung Quốc. Điều này khiến ngành dệt may khó được hưởng lợi từ các hiệp định thương mại tự do với những yêu cầu khắt khe về quy tắc xuất xứ sản phẩm.
Dệt may là ngành xuất khẩu sẽ được hưởng nhiều ưu đãi khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đi vào thực thi. Mặc dù vậy, ưu đãi chỉ đến khi các nhà xuất khẩu của Việt Nam đáp ứng được các quy định trong EVFTA, trong đó, quan trọng hàng đầu là quy định về xuất xứ hàng hóa.
Theo thống kê của Hiệp hội Dệt may, Việt Nam đang phải nhập đến 80% vải cho may xuất khẩu, trong đó hơn 50% từ Trung Quốc, 18% từ Hàn Quốc, 15% từ Đài Loan (Trung Quốc).
Trong EVFTA, châu Âu yêu cầu hàng dệt may Việt Nam phải sử dụng vải tự sản xuất, hay còn gọi là quy tắc xuất xứ “từ vải trở đi”. Bên cạnh đó, EU cũng chấp nhận cho phép cộng gộp xuất xứ. Hiện nay, EU đã có FTA với Hàn Quốc, nên Việt Nam có quyền nhập khẩu vải từ Hàn Quốc về để may áo sơ mi, sau đó bán sang EU vẫn được hưởng ưu đãi.
Xuất khẩu dệt may 6 tháng đầu năm. Đồ họa: TTXVN
Như vậy có nghĩa là với hơn 80% lượng vải nhập khẩu không phải từ Hàn Quốc sẽ không được hưởng ưu đãi thuế quan khi sản xuất hàng dệt may xuất khẩu vào châu Âu.
Để được hưởng các ưu đãi từ EVFTA, ngành Dệt may Việt Nam trước mắt phải chuyển hướng, từ nhập vải của Trung Quốc sang nhập vải của Hàn Quốc và về lâu dài phải đầu tư nhiều hơn cho khâu dệt, nhuộm để làm chủ nguồn vải trong nước.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh, Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ về EVFTA cho biết: Hiện nay, Việt Nam đã xuất siêu sợi sang Trung Quốc, chứ không bị phụ thuộc về sợi. Khi đã có sợi rồi, nếu đầu tư vào ngành Dệt nữa thì sẽ sản xuất ra vải, đáp ứng quy tắc xuất xứ khi vào EU.
“Với quy mô thị trường hơn 200 tỷ USD của EU, thì việc Việt Nam được tiếp cận với thuế 0% sẽ tạo động lực lớn cho các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI sản xuất vải. Vấn đề là các địa phương sẽ dành quỹ đất như thế nào cho các nhà máy dệt, xử lý bài toán môi trường ra sao, khi chấp nhận đầu tư vào dệt”, Thứ trưởng đặt vấn đề.
Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho rằng, khó khăn lớn nhất của ngành Dệt may trong nước là chưa tháo được nút thắt cho khâu đầu tư dệt – nhuộm – hoàn tất. Chưa có nhiều dự án lớn đầu tư vào lĩnh vực này.
“Bế tắc trong việc không thể triển khai được các dự án nhuộm hoàn tất vì phần lớn các địa phương từ chối cấp phép đầu tư do e ngại các dự án này gây ô nhiễm môi trường. Ngành Dệt may Việt Nam hiện vẫn phải nhập khẩu hầu hết nguồn nguyên liệu từ bông, vải cho đến một số phụ liệu chuyên biệt phục vụ sản xuất trong ngành”, bà Mai lo lắng.
Sản xuất sợi tại nhà máy. Ảnh: Trần Việt/TTXVN.
Liên quan tới vấn đề này, các chuyên gia kinh tế cho rằng, các địa phương có cơ sở để lo lắng vấn đề này, nhưng nếu cứ e ngại thái quá thì cơ hội sẽ rơi vào tay các doanh nghiệp FDI, vì họ đang đầu tư và dần làm chủ khâu nguyên phụ liệu và tận dụng cơ hội được hưởng ưu đãi thuế quan tại nhiều thị trường.
Theo TS Trần Du Lịch, chuyên gia kinh tế, sau những vụ việc doanh nghiệp xả thải gây ô nhiễm môi trường được phát hiện, tâm lý chung là “chim sợ cành cong”. Vì thế, các địa phương có cơ sở để lo ngại những dự án đầu tư của doanh nghiệp. Cho nên, chính sách hiện nay là quy hoạch các dự án theo địa bàn và phải xử lý, kiểm soát chặt chẽ về môi trường.
Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cũng nhấn mạnh: Những quốc gia quan tâm đến vấn đề môi trường nhất hiện nay như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc… cũng là những quốc gia phát triển ngành dệt vải nhất. Hiện nay, nếu áp dụng và tuân thủ chặt chẽ theo những công nghệ hiện đại sẽ vừa sản xuất được vải, vừa đảm bảo môi trường.
Khi Việt Nam làm chủ được khâu nguyên liệu, đáp ứng quy tắc xuất xứ thì hàng hóa dệt may sẽ rộng cửa vào nhiều thị trường mà chúng ta đã ký kết Hiệp định thương mại tự do chứ không riêng gì EVFTA.
Năm 2018, ngành Dệt may Việt Nam xuất khẩu 36 tỷ USD, nhưng xuất khẩu sang EU chỉ đạt hơn 4 tỷ USD, đứng thứ hai sau Hoa Kỳ (đạt hơn 13 tỷ USD). Thị phần của Việt Nam tại EU nhỏ (chỉ chiếm khoảng 2%), nên thị trường này còn nhiều dư địa để đẩy mạnh xuất khẩu.
TCCS – Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) dự báo công nghệ tự động hóa có thể thay thế tới 47% khối lượng công việc; Báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ngày 7-7-2016 cũng dự báo, máy móc, công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể thay thế 85% số lao động dệt may của Việt Nam trong vài thập niên tới. Thực tế nhận diện tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các bước đi để tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của ngành dệt may Việt Nam cho thấy những nhận định trên chưa có khả năng xảy ra trong thập niên tới.
Chiếm hơn 10% lao động công nghiệp cả nước, ngành dệt may đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam_Ảnh: nhipcaudautu.vn
Vai trò của ngành dệt may đối với kinh tế Việt Nam
Trong những năm qua, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng của nền kinh tế. Trong tất cả các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu hiện nay, dệt may là ngành có kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng cao. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2018 đạt trên 36 tỷ USD, chiếm 14% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đây là lần đầu tiên Việt Nam đứng thứ hai thế giới về quy mô xuất khẩu hàng dệt may, chỉ sau Trung Quốc và đứng thứ tư về quy mô sản xuất hàng dệt may toàn cầu. Sau hơn mười năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam tăng lên hơn bốn lần, trong đó giá trị nội địa hóa của sản phẩm dệt may xuất khẩu tăng trên sáu lần. Bên cạnh đó, ngành dệt may hiện sử dụng khoảng ba triệu lao động công nghiệp, chiếm tỷ trọng trên 10% so với lao động công nghiệp cả nước. Như vậy, có thể thấy rằng, ngành dệt may đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam.
Để đạt được những thành tựu đáng khích lệ như trên, có thể thấy ngành dệt may đã tận dụng được lợi thế lao động dồi dào, có kỹ năng và tay nghề cùng vị trí địa lý thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, trong thời gian tới, ngành dệt may Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó lợi thế về lao động dồi dào và chi phí lao động thấp sẽ giảm dần.
Ngoài ra, đặt trong bối cảnh ngành dệt may Việt Nam có quan hệ thương mại quy mô lớn với cả Trung Quốc và Mỹ, cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung Quốc cũng tạo ra áp lực nhất định. Với Trung Quốc, Việt Nam nhập khẩu lượng nguyên phụ liệu chủ yếu là vải lên tới hơn 10 tỷ USD/năm, đồng thời là thị trường xuất khẩu sợi lớn nhất, gần 3 tỷ USD/năm. Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng hóa may mặc chiếm tỷ trọng từ 48% đến 50% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam, đồng thời cũng là nơi Việt Nam nhập trên 60% lượng bông tự nhiên để sản xuất sợi. Việc đánh thuế quan vào hàng hóa giữa hai nước Trung Quốc và Mỹ có thể dẫn tới dịch chuyển nguồn cung, cũng như những nguy cơ tiềm ẩn trong các biện pháp trả đũa tiếp theo của hai nước mà chúng ta chưa dự báo được.
Nhận diện khu vực công nghệ có thể thay thế con người
Từ thực tiễn các mô hình công nghệ đã triển khai tại các nhà máy ở Việt Nam và các công nghệ tương lai cho ngành dệt may có thể thấy được những thay đổi chính về công nghệ áp dụng trong ngành dệt may như sau:
Nhóm sợi
Hiện nay, công nghệ ngành sợi tập trung vào việc phát triển máy móc, thiết bị kỹ thuật số với mức độ tự động hóa cao, sử dụng robot trong một số công đoạn; quản lý chất lượng tự động thông qua hệ thống quản lý, phần mềm giám sát, bảo trì thiết bị tự động thông minh. Cho đến nay, công nghệ tiên tiến giúp ngành sợi tiết giảm khoảng 70% số lao động, các nhà máy ứng dụng mô hình công nghệ mới đã có ở Việt Nam. Nếu trước đây để sản xuất 10.000 cọc sợi cần 100 người thì bây giờ chỉ cần từ 25 đến 30 người. Thậm chí, trên thế giới có những nhà máy tiên tiến đang áp dụng sản xuất 10.000 cọc sợi với 10 công nhân đối với các mặt hàng phù hợp, ít thay đổi.
Nhóm dệt nhuộm
Các doanh nghiệp cung cấp thiết bị và giải pháp trong ngành dệt nhuộm chủ yếu tập trung vào các phần mềm thiết kế vải thông minh, sử dụng dữ liệu lớn, in-tơ-nét kết nối vạn vật, kết nối được với hầu hết các loại máy dệt hiện có; phần mềm quản lý nhà máy dệt nhuộm thông minh, kiểm soát tự động toàn bộ quá trình sản xuất. Ngành nhuộm đang hướng tới những công nghệ nhuộm không sử dụng nước, nhuộm nano, nhuộm UV… bảo đảm yêu cầu và xu hướng sản xuất xanh, giảm thiểu các tác động tới môi trường và giảm thiểu việc sử dụng tài nguyên. Chính vì vậy, trong ngành dệt nhuộm, tuy chỉ giảm khoảng 30% số lao động nhưng giảm sử dụng nước, tiêu hao năng lượng lên tới 50%.
Đối với ngành dệt, công nghệ mới giúp tăng năng suất 2,5 lần, nhưng việc sử dụng dữ liệu liên kết trong chuỗi giữa người mua hàng và nhà cung cấp (kết quả sản xuất được kết nối Icloud với tất cả những người mua hàng) cũng tạo ra thách thức cho những người đứng ngoài chuỗi.
Nếu trước đây ngành nhuộm phụ thuộc vào tay nghề của kỹ sư thì nay với việc sử dụng dữ liệu lớn (big data) kết nối tức thời giữa các quốc gia, có thể sử dụng công thức nhuộm của Pháp, Đức ngay tại Việt Nam mà không phụ thuộc vào tay nghề kỹ sư, độ chính xác cao, đạt đến 95% màu cần nhuộm, giúp giảm giá thành. Đặc biệt, ngành nhuộm áp dụng liên kết dữ liệu toàn cầu giữa các nhà sản xuất với người sử dụng (đơn vị sản xuất may mặc). Dữ liệu liên kết này giúp người mua hàng biết đơn hàng của mình đang được làm ở đâu, kiểm soát được chất lượng và tiến độ trực tuyến của sợi và vải của mình đem nhuộm.
Trong ngành dệt may Việt Nam, chỉ 5% số lao động nằm trong nhóm ngành sợi, dệt, nhuộm. Giả sử nếu 50% lao động của nhóm này bị ảnh hưởng bởi Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) thì thực tế chỉ có 2,5% số lao động ngành dệt may (nằm trong ngành sợi, dệt, nhuộm) bị ảnh hưởng.
Nhóm ngành may
Nhóm ngành may hiện đang chiếm tỷ lệ lớn lao động của cả ngành dệt may Việt Nam (95% số lao động toàn ngành thuộc nhóm này). Công nghệ ngành may trong giai đoạn vừa qua tập trung vào các giải pháp quản trị tự động, thiết bị may kỹ thuật số, in 3D và robot may.
Trong 78 công đoạn sản xuất quần áo, các thiết bị kỹ thuật số, tự động hóa được tập trung chủ yếu vào khoảng 8 công đoạn là các công đoạn lặp đi lặp lại, hoặc các công đoạn khó, phức tạp trước đây phụ thuộc vào tay nghề người thợ, như bổ túi, tra tay, tra cổ… để giảm sự phụ thuộc vào tay nghề công nhân và tăng sự đồng đều về chất lượng của các sản phẩm.
Kế tiếp là công nghệ in 3D có thể thay thế công đoạn may, nhưng đến thời điểm hiện tại, in 3D chỉ thực hiện được trên chất liệu có nguồn gốc nhân tạo (nhựa), không in được trên các chất liệu có nguồn gốc tự nhiên, như bông, len, đay. Trong khi bông và sợi tổng hợp (polyester) được sử dụng đến 95% trong sản xuất hàng thời trang trên thế giới.
Bên cạnh đó, đặc thù của ngành may là sản xuất hàng thời trang, với mẫu mã thay đổi liên tục nên việc áp dụng robot không thể đáp ứng hoàn toàn yêu cầu. Hiện nay, trên thế giới đã phát triển mô hình các nhà máy may sử dụng hoàn toàn robot may Sewbot. Các nhà máy này cho phép tăng năng suất từ 1,5 đến 2 lần, trong khi giảm từ 75% đến 90% số lao động. Tuy nhiên, Sewbot chỉ mới áp dụng cho sản xuất các sản phẩm gia dụng đơn giản, như gối, thảm, tấm lót đệm… Sản phẩm may mặc duy nhất sử dụng được Sewbot là áo phông (T-shirt). Chính vì vậy, những dự báo robot thay thế phần lớn lao động có thể diễn ra trong ngành sợi, dệt nhưng chưa thể xảy ra đối với ngành thời trang may mặc Việt Nam, với 95% số lao động.
Doanh nghiệp dệt may Việt Nam trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Chính phủ Việt Nam đã giao Tập đoàn Dệt may Việt Nam tiến hành nghiên cứu chuyên sâu về tác động của cuộc CMCN 4.0 đối với sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may Việt Nam. Để có dữ liệu nghiên cứu, phân tích, nhóm khảo sát đã tổ chức cuộc khảo sát thử nghiệm đối với khoảng 300 doanh nghiệp dệt may trên khắp cả nước, trong đó khảo sát trực tiếp tại hơn 100 doanh nghiệp. Các doanh nghiệp khảo sát được chia thành bốn nhóm ngành, trong đó doanh nghiệp sợi chiếm 29%, doanh nghiệp dệt chiếm 16%, doanh nghiệp nhuộm chiếm 18% và doanh nghiệp may chiếm 37%. Về cơ cấu theo loại hình sở hữu, có 58% số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nước, 18% số doanh nghiệp có vốn nhà nước và 24% số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Nhóm khảo sát đã tham khảo phương pháp VDMA (Verband Deutscher Maschinen - und Anlagenbau) của Hiệp hội Kỹ thuật cơ khí của Đức, có sự điều chỉnh cho phù hợp hơn với tình hình thực tế tại Việt Nam, tập trung phân tích dựa trên các yếu tố: 1- Hệ thống quản trị thông minh; 2- Máy móc thiết bị thông minh; 3- Quản lý chuỗi cung ứng dựa trên nền tảng dữ liệu; 4- Người lao động; 5- Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Bên cạnh đó, nhóm khảo sát cũng đưa ra các câu hỏi để đánh giá về nhận thức và mức độ chuẩn bị cho CMCN 4.0 của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Kết quả khảo sát cho thấy, về độ sẵn sàng và mức độ công nghệ phù hợp nhất với CMCN 4.0, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam được khảo sát hiện chỉ ở mức điểm trung bình 2,59 trên thang điểm 5 của khảo sát, trong đó:
1- Về mức độ tự động hóa, hiện nay các doanh nghiệp dệt may Việt Nam mới dừng ở trình độ tự động hóa thiết bị ở mức thấp. Cụ thể, ngành sợi đang ở mức cao nhất là 3,3 điểm, tiếp đến là ngành nhuộm với 2,9 điểm, ngành may: 2,7 điểm và thấp nhất là ngành dệt: 2,2 điểm.
2- Về mức độ sẵn sàng, ngành sợi đang ở mức cao nhất là 3,02 điểm, tiếp đến là ngành may: 2,85 điểm, ngành nhuộm: 2,3 điểm và thấp nhất là ngành dệt: 2,2 điểm.
3- Đối với hệ thống quản trị, hiện ngành may có mức điểm cao nhất với 3,11 điểm, tiếp đó là ngành nhuộm: 2,83 điểm, ngành sợi: 2,61 điểm và ngành dệt đứng cuối nhóm với 2,46 điểm.
Điểm “nghẽn” khó nhất của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là chi phí cho R&D thấp, gần như không có, do tỷ suất lợi nhuận thấp, tích lũy quy mô còn nhỏ. Theo kết quả khảo sát, các doanh nghiệp may Việt Nam có dành ngân sách hằng năm cho hoạt động R&D, nhưng tỷ lệ chưa cao.
Có thể thấy rằng, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn sẵn sàng cho việc đầu tư bài bản theo xu hướng CMCN 4.0. Khó khăn nhất chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiềm lực kinh tế thấp (bài toán về vốn). Trong khi đó để phát triển theo kịp xu hướng CMCN 4.0 đòi hỏi vốn lớn, lãi phải trả cho chi phí đầu tư cao, khấu hao thiết bị cũng cao.
Trong ngắn hạn, các doanh nghiệp sẽ tập trung đầu tư vào máy móc, thiết bị tự động hóa và các giải pháp tăng năng suất cục bộ, chủ yếu để bù đắp thiếu hụt về lao động. Trong dài hạn, các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đầu tư quản trị theo hướng số hóa thiết bị để tiết giảm lao động, đối phó với nguồn cung lao động ngày càng giảm.
Dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ngành dệt may Việt Nam cần phải đổi mới công nghệ, xây dựng chiến lược đào tạo, chuyển đổi nguồn nhân lực chất lượng cao một cách kịp thời_Ảnh: Tư liệu
Từ thực tiễn kiểm chứng có thể khẳng định: 85% số lao động dệt may mất việc sẽ không xảy ra trong 10 năm tới. Chỉ có khoảng 15% lực lượng lao động tại doanh nghiệp và khoảng 20% số lao động phải được đào tạo lại nghề để hình thành đội ngũ kỹ thuật cao đảm nhiệm quản trị thiết bị, quản trị công nghệ, quản trị khách hàng, nhưng đồng thời Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng tạo thêm 20% số lượng công việc mới về thiết kế, xử lý mẫu kỹ thuật cho thiết kế thời trang mới, chưa kể ngành dệt may được dự báo vẫn tiếp tục tăng trưởng trong 5 đến 10 năm tới kéo theo nhu cầu lao động vẫn tiếp tục tăng. Cuộc CMCN 4.0 có thể mang lại nhiều cơ hội để thay đổi bộ mặt các nền kinh tế, nhưng chỉ mang lại những thay đổi tích cực cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam khi các doanh nghiệp này có sự chuẩn bị tốt để nắm bắt được làn sóng này. Vì vậy, trong giai đoạn tới, các doanh nghiệp dệt may cần thường xuyên cập nhật tình hình về công nghệ của thế giới để có thể tiếp cận với công nghệ hiện đại và có định hướng đầu tư đúng đắn, tránh tình trạng công nghệ sản xuất của Việt Nam bị mất khả năng cạnh tranh do lạc hậu. Bên cạnh đó, cần có sự chuẩn bị cả nguồn lực về vốn, thị trường để ứng dụng từng phần CMCN 4.0 trong quá trình đầu tư, sản xuất mới. Nếu các doanh nghiệp vẫn giữ nguyên mô hình hoạt động, chất lượng nhân công và công nghệ lạc hậu như hiện nay, thì trong dài hạn việc khủng hoảng thừa lao động sẽ trở thành vấn đề đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy, cần có kế hoạch giải quyết lao động dư thừa, xây dựng chiến lược đào tạo, chuyển đổi nguồn nhân lực chất lượng cao một cách kịp thời. Điều này không chỉ làm giảm bớt những nguy cơ biến động lao động mà còn giúp tăng quy mô ngành dệt may cả về năng lực sản xuất lẫn năng lực xuất khẩu.
Rất cần sự vào cuộc của Chính phủ
Trước hết trong Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp của Việt Nam đến năm 2030, Chính phủ cần xác định rõ ngành dệt may sẽ phát triển đến quy mô nào. Trong chiến lược phát triển cho ngành công nghiệp dệt may cần phân tích kỹ chính sách của các quốc gia cạnh tranh để có quyết sách phù hợp.
Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển chung cho toàn ngành đi kèm mục tiêu cụ thể cho doanh nghiệp trong ngành, đồng thời cần có chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ, đầu tư công nghệ mới tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường… Hiện tại, việc đầu tư công nghệ mới tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường đòi hỏi vốn lớn nên phải có hỗ trợ giúp nhà đầu tư có thể cạnh tranh được với các nhà sản xuất sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu, thậm chí đã hết khấu hao, bán phá giá, ví dụ như hỗ trợ vốn trực tiếp hoặc miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giúp tạo nguồn lực đầu tư công nghệ hiện đại; đẩy mạnh hỗ trợ các nghiên cứu, ứng dụng về đổi mới công nghệ, sản phẩm kỹ thuật mới trong ngành dệt may.
Bên cạnh đó, các chính sách liên quan đến đào tạo cũng cần được quan tâm, như hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đào tạo nhân lực phù hợp với xu thế của cuộc CMCN 4.0. Chính sách này sẽ giúp tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ ngày càng cao hơn, thu nhập tốt hơn.
Ngoài ra, cần cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục phi thuế quan; giúp cải thiện môi trường kinh doanh; cắt bỏ các điều kiện kinh doanh không phù hợp; thúc đẩy việc hình thành thị trường dệt may cạnh tranh lành mạnh./.
Trong quá trình sản xuất, dệt may phải trải qua một quá trình xử lý hóa học và phi hóa học lâu dài. Quy trình hoàn thiện dệt bao gồm chuẩn bị và tiền xử lý, nhuộm, in và tinh lọc vải.
Một số sản phẩm hóa chất dệt là hóa chất chuyên biệt hóa cao như chất diệt khuẩn, chất chống cháy, chất chống thấm và kích thước sợi dọc. Các hóa chất dệt nhuộm khác là hóa chất hoặc hỗn hợp tương đối đơn giản như dầu nhũ hoá và mỡ, tinh bột, dầu sulfonated, sáp và một số chất hoạt động bề mặt. Hơn sáu mươi lớp sản phẩm hóa học dệt khác nhau được sử dụng trong quá trình hình thành sợi, xử lý sơ bộ vải và hoàn thiện, cán và phủ vải cũng như các ứng dụng linh tinh khác.
Tìm hiểu về ngành công nghiệp dệt nhuộm
Dệt nhuộm là ngành công nghiệp đang phát triển mạnh do sự đầu tư của trong nước cũng như ngoài nước. Trong điều kiện kinh tế thị trường thời mở cửa, dệt nhuộm là ngành công nghiệp chiếm được vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước và là nguồn giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động.3
Hóa chất dệt nhuộm là gì?
Hóa chất dùng cho ngành dệt nhuộm là một nhóm các hóa chất vô cơ chủ yếu là sử dụng để nhuộm, hoàn tất và hoàn tất hàng dệt may. Các loại hóa chất dùng cho ngành dệt may bao gồm:
Natri clorua, natri hydro sulfat và natri sunfat dùng trong công đoạn nhuộm
Magnesium sulfate trong hoàn tất
Natri sunfit và natri đithionit như một chất khử trong thuốc nhuộm vat và thuốc nhuộm lưu huỳnh
Muối nhôm dùng trong công đoạn chống thấm vải
Natri clorit, sodium hypochlorite và hydrogen peroxide dùng tẩy trắng
Amoniac, xút, axit sulfuric, axit fomic và axit axetic dùng trong qui trình nhuộm và hoàn tất.
Danh sách các hóa chất được sử dụng
Có các loại hóa chất khác nhau được sử dụng trong nhuộm dệt được chỉ ra dưới đây theo loại của chúng:
1. Hóa chất cơ bản
Tro soda
Hydrochloric
Hydrogen peroxide
Axít sulfuric
A-xít a-xê-tíc
Axit formic
Xút ăn da
2. Chất tẩy rửa hoặc xà phòng
Serafast-CRD
Kappatex R98
Seraperse CSN
LPD Crosden
ResotexWOP
Diypol XLF (Đối với vải polyester)
Jintex WRN
3. Chất cọ rửa
Jintex-GD
Felosan RGN
Jintex-GS
4. Chất làm phẳng
Levelex-P
Jinleve leve-RSPL
Serabid- MIP
Dyapol XLF
Lubovin-RG-BD
5. Muối điện giải
Muối Glubar
Muối thường
Muối tinh chế
Xút ăn da
Caustic Soda Pear
6. Tác nhân cô lập
Resotext 600S
Heptol-EMG
Heptol-DBL
7. Tác nhân làm trắng
Uvitex2B
Uvitex BHV
Bluton BBV
Tuboblanc col
Uvitex BAM
Synowhite
Hostalux ETBN (Đối với vải polyester)
8. Chất làm mềm
Cetasaft CS
Resomine Supper
Acelon
Resosoft –XCL
Silicon (để hoàn thiện)
9. Chất tẩy trắng
35% H2O2
10. Chất chống nhăn
Kappavon CL
Biovin 109
AC-200
Cibafuid – C
MFL
11. Chất chống tạo bọt
Jintex TPA
AV-NO
VO
Cibaflow-JET
12. Chất điều chỉnh độ PH
Soda Ash
Axit
Caustic
RBT trung tính (không bay hơi)
13. Ổn định
Ổn định PSLT
kappazon H53
Tinoclarite CBB
14. Giảm tác nhân
Hydrose
15. Enzyme
Tinozyme 44L,
Rzyme 1000,
Avozyme CL PLUS,
Enzyme-B50.
Các hóa chất trên được sản xuất bởi các nhà sản xuất hóa chất khác nhau. Trước khi mua hóa chất cần được xác nhận về tính chất của hóa chất. Các đặc tính hóa học phải được kiểm tra trong phòng thí nghiệm để đảm bảo về chất lượng bởi vì các hóa chất đủ điều kiện có thể cung cấp đầu ra đủ điều kiện.